CÓ BÌNH ĐẲNG KHÔNG?

CÓ BÌNH ĐẲNG KHÔNG?

Theo truyền thuyết cha Rồng Lạc Long Quân và mẹ Tiên Âu Cơ lấy nhau sinh được trăm trứng, đẻ ra trăm con, vì là cha rồng mẹ Tiên nên không thể ở với nhau được, thế là một cuộc chia tay đẫm nước mắt xảy ra, cha dẫn 50 con xuống biển, mẹ dẫn 50 con lên rừng. Đó là tổ tiên, dòng giống Việt Nam: con rồng cháu tiên. Chúng ta … có hơn 50 dân tộc anh em, được ghi nhận là thời vua Hùng dựng nước, giữ nước cách đây hàng 4000 năm. Chứng tích là đền thờ Vua Hùng, quốc Tổ Việt Nam ở tỉnh Phú Thọ. Một gia đình đầu tiên rồi sau đó đến 19 đời Vua Hùng còn bao truyền thuyết nữa nhưng gắn kết về gia đình, bình đẳng giới có lẽ là chuyện sự tích dưa hấu (Mai An Tiêm), bánh dầy bánh chưng (Lang Liêu) Sơn Tinh Thủy Tinh … Hai bà Trưng

Đó là truyền thuyết và lịch sử, như vua Hùng, Hai bà Trưng là lịch sử, trong thời ấy mà một người phụ nữ vì nợ nước thù nhà đã phất cao cờ khởi nghĩa chiến thắng quân Nam Hán trở thành vị vua Nữ đầu tiên của VN mà ai cũng biết.Tôi bắt đầu bằng những tóm gọn lịch sử như thế nhằm giới thiệu đến các bạn nội dung chủ đề hôm nay: Vấn đề bình đẳng giới. Theo như lịch sử thì rõ ràng thời cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ  đã không phân biệt nòi giống để vẫn lấy nhau, đã rất bình đẳng khi chia 50 con để ra đi, thời vua Hùng, Hai bà Trưng chẳng phải là mẫu hệ, phụ nữ làm vua đấy sao? Đến thời phong kiến thì qua Cung oán ngâm khúc, Đoạn trường tân Thanh (Thúy Kiều) thân phận người phụ nữ quả tủi nhục, khốn cùng, Đến thời Pháp thuộc, những người phụ nữ như Chị Dậu là điển hình cho số phận khổ đau của người phụ nữ thời ấy, thời của thuyết tam tòng tứ đức: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, thời mà nữ sỹ Hồ Xuân Hương phải chua xót thốt lên :Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng

Và:

“Trai năm thê bẩy thiếp, Gái chính chuyên chỉ một chồng”

Cái thời mà :

Đang khi lửa táp, cơm sôi.

Lợn kêu, con khóc.

Chồng đòi tòm tem”

Hoặc:

“Con Hư tại mẹ, cháu hư tại bà”

Cùng nhiều câu ca dao, tục ngữ khác nói lên thân phận người phụ nữ buồn tủi như:

“Ngày xưa anh bủng anh beo,

Tay cầm chén thuốc lại đèo múi chanh

Ngày nay anh tốt anh lành

Anh mê vợ bé anh đành bỏ tôi, “

Rồi:

“Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”

… mà rất hiếm bao giờ ngược lại.

Sự bình đẳng giới ngày ấy chỉ là chuyện  mà người phụ nữ không bao giờ có, không biết đến, họ chỉ biết làm vợ, làm mẹ: có chồng thì phải theo chồng, nuôi dạy con, phục vụ gia đình nhà chồng theo đúng nghĩa làm dâu, chấp nhận lấy chồng thì phải gánh vác giang sơn nhà chồng, làm một người Nội trợ cho hoa mỹ. Thê thảm hơn, người phụ nữ thời ấy chính là hình ảnh:

“Lấy chồng từ thủa mười ba,

Đến năm mười tám thiếp đà năm con,

Ra đường thiếp hãy còn son,

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng …”

Để rồi

“Trai ba mươi tuổi đang soan, gái ba mươi tuổi đã toan về già”

Đáng sợ hơn là tư tưởng trọng nam khinh nữ:

“Nhất Nam viết hữu, thập nữ viết vô” – Mười con gái không bằng một con trai vẫn còn khá đậm trong các gia đình.

Ngày ấy cả dân tộc đằng đẵng trong kiếp dài nô lệ, ngày ấy số phận người phụ nữ Việt Nam lại càng khốn cùng, cả đời người phụ nữ không được lên phòng khách, không được đi học, không được tất cả mọi thứ trừ việc đẻ con, nuôi con, nội trợ và hàng núi công việc không tên khác của thân phận làm dâu , làm vợ, làm mẹ. Dĩ nhiên đa số người phụ nữ thời ấy là mù chữ.

Khi luật Bình đẳng giới có hiệu lực.Đến nay,chúng ta có gì, có lẽ chúng ta cần biết về số liệu dân số thống kê năm 2009 thì hiện nay vấn đề Bình đẳng giới đang mất cân đối 106 nam/100 nữ mà tỉ lệ chênh lệch cho phép là 110,5 nam/100 nữ. Trong hai năm 2007 và 2010 tỷ lệ sinh con tăng đột biến do quan niệm năm Heo vàng, Cọp vàng, và nhờ có các phương tiện kỹ thuật hiện đại nên việc ngầm lựa chọn giới tính càng làm tăng thêm việc mất cân đối này. Và có một cảnh báo là  nếu không kịp chấn chỉnh thì đến 2.025,  nam giới VN sẽ khó lấy vợ do chênh lệch giới tính. Trong một chương trình tọa đàm của đài truyền hình Hải Dương 2008 phát trên VTC 6 thì năm 2008, tỉnh Hải Dương đã có tỷ lệ chênh lệch giới tính là 120nam/100nữ và dự báo năm 2010 sẽ là 130nam/100nữ .Và tỷ lệ sinh con thứ ba vẫn đang có khuynh hướng phát triển chỉ để kiếm “một thằng cu” chống gậy sau này.

Như vậy dù có luật bình đẳng giới nhưng xem chừng quan điểm trọng nam khinh nữ vẫn khó thay đổi, phải có nam để nối dõi tông đường. Đó là việc dân số và bình đẳng giới trong xã hội thì quả là vượt bậc so với trước đây, phụ nữ đã có nhiều quyền hơn, tham gia xã hội nhiều hơn: 15% nữ trong quốc hội, là lãnh đạo, trí thức …15% này là cả một thế kỷ phấn đấu, một thế kỷ vươn lên của bản thân những người phụ nữ nhọc nhằn mà tôi trình bày ở trên. Hoặc một số liệu nữa là lao động nữ luôn gặp thiệt thòi như chỉ làm ở những ngành có thu nhập thấp so với nam. Nữ nghỉ hưu trước nam 5 tuổi còn đang tranh cãi khi thực tế về hưu thì chế độ hưu trí không đủ sống , và vô hình trung người nữ khi ở tuổi 45 là không quy hoạch nữa, 10 năm trước khi nghỉ hưu, chị em hiếm còn cơ hội thăng tiến. Rồi gánh nặng gia đình, nuôi dạy con, kiếm sống … sự bất bình đẳng do những người chồng, người cha, mẹ đối xử với nữ còn thiên lệch. Cứ như thế nó tạo thành một tư tưởng khó thoát, ăn sâu, Luật bình đẳng giới còn phải có thời gian mới thông suốt trong từng mỗi người. Chỉ riêng việc lựa chọn dành ưu tiên cho việc học, con trai sẽ ưu tiên hơn, trong gia đình vấn đề chia sẻ việc nhà còn là chuyện cổ tích đối với các ông chồng.Đó là sự thật,nhưng dù sao cứ nhớ đến những tiểu thuyết, những áng thơ văn của các bậc trước đây, tôi bỗng thấy mình lo sợ, nhớ lại mình đã trải hết đời vẫn đằng đẵng một mối lo khó nói về điều này đến thế!.

PHAN THỊ VINH